BỆNH BẠCH HẦU NGUY HIỂM NHƯ THẾ NÀO ?

Bạch hầu là một trong những căn bệnh “gây ác mộng” trên toàn thế giới với tỷ lệ tử vong lên tới 20% ở trẻ em dưới 5 tuổi và người lớn trên 40 tuổi (theo thông tin từ Cục Y tế dự phòng). Nếu không có biện pháp phòng ngừa và điều trị kịp thời, bệnh bạch hầu có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như viêm cơ tim, tê liệt thậm chí tử vong…

Bệnh bạch hầu nguy hiểm như thế nào?

Theo thông tin từ Cục Y tế dự phòng Việt Nam (VNCDC), bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính có giả mạc ở tuyến hạnh nhân, hầu họng, thanh quản, mũi. Bệnh có thể xuất hiện ở da, các màng niêm mạc khác như kết mạc mắt hoặc bộ phận sinh dục. Đây là một bệnh vừa nhiễm trùng vừa nhiễm độc và các tổn thương nghiêm trọng của bệnh chủ yếu là do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu gây ra.

Bệnh có thể lây truyền trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua đường hô hấp hoặc gián tiếp qua đồ chơi, vật dụng. Khi nhiễm bệnh, có thể dễ dàng nhận thấy triệu chứng điển hình của bệnh bạch hầu như sau:

  • Cơ thể bị sốt nhẹ, đau họng nhiều, ho, khàn tiếng và chán ăn.
  • Sau 2-3 ngày, amidan có thể sưng to, xuất hiện giả mạc mặt sau hoặc hai bên thành họng, có màu trắng ngà, xám hoặc đen. Giả mạc dai, dính, dễ chảy máu. Đây là dấu hiệu quan trọng nhất để phát hiện bệnh bạch hầu.
  • Bệnh nhân có thể có dấu hiệu khó thở, khó nuốt. Bệnh có thể qua khỏi hoặc trở nên trầm trọng và tử vong trong vòng 6-10 ngày.
  • Trường hợp bệnh nặng không có biểu hiện sốt cao nhưng có dấu hiệu sưng to cổ, khàn tiếng, khó thở, rối loạn nhịp tim, liệt.

Bệnh có thể qua khỏi hoặc trở nên trầm trọng và tử vong trong vòng 6-10 ngày. Tỷ lệ tử vong trung bình là 5% – 10%. Tỷ lệ tử này tăng đột biến – lên tới 20% ở trẻ em dưới 5 tuổi và người lớn trên 40 tuổi.

Các biến chứng nguy hiểm của bệnh bạch hầu

Theo Cục y tế dự phòng CDC, biến chứng bệnh bạch hầu vô cùng nguy hiểm, nếu không kịp thời xử lý và điều trị khi phát hiện những biểu hiện của bệnh thì có thể dẫn đến tử vong trong vòng 6-10 ngày.

Tắc nghẽn đường hô hấp

Các triệu chứng bệnh bạch hầu chủ yếu là gây viêm họng – thanh quản. Vi khuẩn bạch hầu sẽ tạo lớp màng giả màu trắng do các lớp tế bào bị viêm tạo ra lớp màng bám vào trong vòm họng. Nếu không điều trị, màng bám sẽ lan ra lấp đường hô hấp gây ngạt thở, suy hô hấp cho người bệnh.

Viêm cơ tim

Độc tố bạch hầu có thể ảnh hưởng đến tim, gây ra rối loạn nhịp tim, suy tim và có thể tử vong. Biến chứng viêm cơ tim có thể xảy ra trong giai đoạn toàn phát của bệnh hoặc cũng có thể xảy ra chậm vài tuần sau khi bệnh đã khỏi. Khi viêm cơ tim xuất hiện sớm trong những ngày đầu của bệnh, tiên lượng thường xấu, tỷ lệ tử vong rất cao. Một số bệnh nhân bị viêm cơ tim và van tim, sau nhiều năm gây ra bệnh tim mãn và suy tim.

Tổn thương thần kinh dẫn đến tê liệt

Độc tố bạch hầu cũng có thể ảnh hưởng đến các dây thần kinh (biến chứng thần kinh) và dẫn đến tê liệt. Chúng có thể xảy ra vài tuần sau khi bạn gặp phải những triệu chứng đầu tiên của bệnh bạch hầu.

Vấn đề về bàng quang

Một biến chứng khác có thể xảy ra với bệnh nhân bạch hầu là các vấn đề về dây thần kinh kiểm soát bàng quang (rối loạn chức năng thần kinh bàng quang). Nếu những dây thần kinh này bị tổn thương, người bệnh sẽ không thể làm trống hoàn toàn bàng quang. Điều này có thể gây ra các triệu chứng như: đi tiểu thường xuyên, tiểu rắt, mất kiểm soát bàng quang.

Các vấn đề về bàng quang thường phát triển trước khi tê liệt cơ hoành, do đó, có thể nói đây là dấu hiệu cảnh báo sớm người bệnh đang có nguy cơ tiến triển các vấn đề nghiêm trọng về hô hấp.

Tê liệt cơ hoành

Cơ hoành là một cơ hình vòm dày ngăn cách ngực với bụng, giúp chúng ta có thể hít thở. Với người bệnh bạch hầu, cơ hoành có thể bị tê liệt rất đột ngột, kéo dài hơn nửa giờ hoặc lâu hơn. Nếu cơ hoành tê liệt, ngừng hoạt động, người bệnh có nguy cơ tử vong.

Biến chứng liệt cơ hoành xuất hiện vài tuần sau khi mắc bệnh bạch hầu, ngay cả khi người bệnh đã hồi phục sau nhiễm trùng ban đầu hoặc xuất hiện sau các biến chứng khác như viêm cơ tim, nhiễm trùng phổi… Vì lý do này, bệnh nhi bị bệnh bạch hầu và các biến chứng khác, như viêm cơ tim vẫn có thể được giữ lại điều trị ngoại trú tại bệnh viện đến 6 tuần, dù bệnh nhi có vẻ đã tốt hơn.

Nhiễm trùng phổi (suy hô hấp hoặc viêm phổi)

Vào tuần thứ 5 của bệnh có thể xảy ra biến chứng liệt các dây thần kinh vận nhãn, cơ chi và liệt cơ hoành. Cơ hoành có vai trò quan trọng đối với hệ hô hấp, do đó nếu cơ hoành bị liệt hoàn toàn, triệu chứng khó thở sẽ biểu hiện thường xuyên hơn, thậm chí dẫn đến viêm phổi và suy hô hấp.

Tử vong

Ngay cả khi điều trị kịp thời, vẫn có khoảng 1 trong 10 bệnh nhân bạch hầu tử vong. Nếu không điều trị, có tới một nửa số bệnh nhân có thể chết vì căn bệnh này.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *